Giấy giải phóng da nhân tạo đóng vai trò là phương tiện vận chuyển quan trọng giúp chuyển các mẫu và kết cấu bề mặt sang chất nền da tổng hợp trong quá trình phủ. Chất nền giấy chuyên dụng này nhận các mẫu in nổi thông qua các hoạt động cán lịch chính xác, sau đó giải phóng các họa tiết này lên lớp phủ polyurethane hoặc polyvinyl clorua mà không bị hỏng độ bám dính.
Chức năng giải phóng phụ thuộc vào đặc tính năng lượng bề mặt được kiểm soát cho phép tách sạch sau khi lớp phủ đóng rắn. Các nhà sản xuất thường đạt được giá trị giải phóng từ 15 đến 35 gram trên chiều rộng 25 mm, đảm bảo quá trình tháo khuôn đáng tin cậy đồng thời ngăn chặn sự biến dạng của mẫu trong quá trình giải phóng da nhân tạo.
Giấy giải phóng da nhân tạo chất lượng cao sử dụng đế giấy kraft siêu mịn có định lượng từ 80 đến 150 gam trên một mét vuông. Giấy nền trải qua quá trình xử lý lớp phủ chuyên dụng bao gồm các lớp giải phóng silicon, lớp phủ rào cản và đôi khi là màng polyme giúp tăng cường độ ổn định kích thước trong quá trình xử lý nhiệt.
Việc sản xuất giấy giải phóng da nhân tạo bao gồm quá trình xử lý nhiều giai đoạn để đạt được các đặc tính giải phóng nhất quán. Sản xuất giấy nền sử dụng bột giấy kraft sợi dài để tối đa hóa đặc tính độ bền, tiếp theo là gia keo bề mặt bằng tinh bột hoặc polyme tổng hợp để tạo nền mịn cho các hoạt động phủ tiếp theo.
Ứng dụng lớp phủ phát hành sử dụng phương pháp phủ ống đồng hoặc khuôn dạng rãnh để lắng đọng các công thức silicon ở mức 0,5 đến 2,0 gam trên một mét vuông. Lò sấy duy trì nhiệt độ từ 120 đến 150 độ C trong 30 đến 60 giây để đạt được liên kết ngang thích hợp mà không làm suy giảm nhiệt của chất nền giấy.
| Phân loại lớp | Trọng lượng cơ bản (g/m2) | Lực nhả (g/25 mm) | Loại ứng dụng |
|---|---|---|---|
| Lớp tiêu chuẩn | 80-100 | 25-35 | Quá trình khô PU |
| Hạng cao cấp | 100-120 | 15-25 | PU xử lý ướt |
| Cấp công nghiệp | 120-150 | 30-40 | Cán PVC |
Giấy nhả da nhân tạo có chức năng như phương tiện dụng cụ chính xác định tính thẩm mỹ bề mặt của các sản phẩm da tổng hợp thành phẩm. Máy cán dập nổi áp dụng áp suất từ 50 đến 200 newton trên mỗi cm tuyến tính để in vân da, hoa văn hình học hoặc họa tiết tùy chỉnh lên bề mặt giấy nhả.
Độ bền của hoa văn trên giấy giải phóng da nhân tạo kéo dài đến 8 đến 12 chu kỳ sản xuất trong điều kiện tối ưu trước khi xảy ra sự suy giảm kết cấu. Các cuộn dập nổi mạ crom tiên tiến với hoa văn được khắc bằng laser đạt được khả năng phân giải 50 dòng trên mỗi cm, cho phép tái tạo cấu trúc lỗ chân lông của da tự nhiên và các biến thể bề mặt tinh tế.
Giấy giải phóng da nhân tạo hoạt động trong các dây chuyền sản xuất lớp phủ liên tục đồng bộ hóa các hoạt động tháo cuộn, ứng dụng lớp phủ, cán màng và cuộn lại. Tốc độ đường truyền thường dao động từ 15 đến 50 mét mỗi phút tùy thuộc vào độ dày lớp phủ và yêu cầu bảo dưỡng. Giấy nhả di chuyển qua hệ thống khi tiếp xúc trực tiếp với lớp phủ ướt, duy trì khả năng kiểm soát độ căng trong phạm vi ±5% để tránh biến dạng mẫu.
Giấy giải phóng da nhân tạo chiếm một khoản chi phí tiêu hao đáng kể trong sản xuất da tổng hợp, chiếm 8% đến 15% tổng chi phí nguyên liệu. Các chương trình tái chế thu hồi 60% đến 75% giấy phát hành đã qua sử dụng để đẩy lùi và sản xuất giấy cơ bản, giảm việc chôn lấp và tiêu thụ nguyên liệu thô.
Các phát triển mới nổi tập trung vào lớp phủ có khả năng phân hủy sinh học và chất nền giấy có nguồn gốc từ chứng nhận lâm nghiệp bền vững. Nhũ tương silicone gốc nước thay thế các hệ thống dựa trên dung môi để loại bỏ khí thải hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong giai đoạn phủ của sản xuất giấy giải phóng da nhân tạo.